cử chỉ tay trong giao tiếp
Cử chỉ. Cử chỉ có thể là một số tín hiệu ngôn ngữ cơ thể trực tiếp và rõ ràng nhất. Vẫy tay, chỉ và sử dụng các ngón tay để biểu thị số lượng đều là những cử chỉ rất phổ biến và dễ hiểu. Tuy nhiên, một số cử chỉ có thể mang tính văn hóa, do đó, đưa
Trong giao tiếp phi lời, cử chỉ điệu bộ của tay và nét mặt đóng vai trò quan trọng hơn cả, bởi chúng có tấn số xuất hiện cao, giá trị thơng báo lớn hơn nhiều so với các bộ phận khác trên cơ thể. Đó là những hành vi quen thuộc, gần gũi xung quanh, dễ dàng bắt gặp tuy
Xem tướng người qua cử chỉ thói quen giao tiếp hằng ngày. 20/03/2017, 23:27. Những cử chỉ trong giao tiếp hằng ngày tạo thành một thói quen tốt hoặc xấu, tuy nhiên, theo các nhà nhân tướng học hoặc người nhiều kinh nghiệm, chỉ nhìn cử chỉ là biết ngay tính cách con người. 1.
Không giao tiếp mắt. Bước tới bước lui. Có cử chỉ phi lý. Nghiêng đầu. Khoanh tay, bắt chéo chân; Ngồi dịch ra xa. Đang đánh giá. Tự tin, hợp tác và thành thật. Gật đầu. Cúi người về phía trước. Liếc mắt. Mở rộng tay và bàn tay. Duy trì giao tiếp mắt. Giao tiếp mắt
Đây được xem là một chỉ dấu không mấy tích cực đối với đảng Dân chủ trước kỳ bầu cử Quốc hội giữa kỳ. Theo kết quả thăm được tiến hành trên 2.005 người trong khoảng thời gian từ 14-16/10, có hơn 90% cử tri Mỹ quan ngại về kinh tế và lạm phát.
Site De Rencontre Pour Agriculteur Suisse. Cập nhật vào 21/06Giao tiếp bằng cử chỉ mang lại rất nhiều lợi ích, góp phần rất lớn tạo nên thành công cho cuộc hội thoại. Có những hình thức giao tiếp cử chỉ nào? Tìm hiểu qua bài viết dưới đây của chúng tôi. 1. Giao tiếp bằng cử chỉ là gì?2. Vai trò của cử chỉ trong giao tiếp3. Các hình thức giao tiếp bằng cử chỉGiao tiếp bằng mắtBiểu hiện của ánh mắt khi giao tiếpGiao tiếp bằng nét mặtGiao tiếp bằng hành độngGiao tiếp bằng tư thế và điệu bộGiao tiếp thông qua động tác tay, chânGiao tiếp bằng giọng điệu1. Giao tiếp bằng cử chỉ là gì?Giao tiếp bằng cử chỉ là một bộ phận của giao tiếp phi ngôn ngữ, nó được sử dụng để mô tả thêm cho lời nói của người đang thực hiện diễn giả. Việc sử dụng các cử chỉ cũng thể hiện được sự tự tin hay không tự tin của người đang thực hiện ngữ cử chỉ bao gồm các cử động của tay, chân, đầu, khuôn mặt, ánh mắt, âm lượng/giọng điệu khi nói, tư thế đứng, tư thế chỉ là một phần của giao tiếp phi ngôn ngữ2. Vai trò của cử chỉ trong giao tiếpTrong những tình huống cụ thể, cử chỉ có những ý nghĩa nhất định. Giao tiếp bằng mắt, nét mặt, động tác cơ thể,… là một phần giao tiếp bằng cử chỉ. Nó góp phần quan trọng vào sự thành công trong giao nói và cử chỉ kết hợp phù hợp với nhau sẽ tác động hiệu quả hơn tới người giao tiếp đối diện. Khi bạn hiểu được ngôn ngữ cử chỉ, đôi khi sẽ giúp bạn nhìn thấy thái độ không lời của đối phương trước khi họ nói ra. Trong những lúc như vậy bạn có thể thay đổi tình thế kịp thời. Ngoài ra, trong những trường hợp tế nhị, cử chỉ có thể diễn tả thay cho lời nói khó thành nghiên cứu các nhà khoa học thì trong quá trình giao tiếp, lời nói bao gồm ba yếu tố ngôn ngữ, phi ngôn ngữ hay còn gọi là ngôn ngữ của cơ thể và giọng điệu. Ngôn ngữ, lạ thay chỉ góp phần nhỏ nhất 7% trong việc tác động đến người nghe, giọng điệu chiếm tới 38% và yếu tố phi ngôn ngữ lại trở nên quan trọng nhất vì sở hữu được 55%.Đồng thời các nhà khoa học cũng chỉ ra cử chỉ của con người biểu hiện so với lời nói chân thực hơn và ít dối trá hơn. Những tín hiệu không lời mang thông tin nhiều gấp 5 lần so với nói bằng lời. 75 % thông tin mà con người thu nhận được là qua kênh thị giác, qua kênh thính giác là của ý thức, chúng chủ yếu là những hành vi vô thức, là những thói quen, mà con người không hoặc ít nhận biết được. Chính vì vậy, đôi khi chúng ta có những cử chỉ gây khó chịu cho người đối thoại mà ta không nhận Các hình thức giao tiếp bằng cử chỉGiao tiếp bằng mắtĐôi mắt là bộ phận quan trọng nhất của con người. Tiếp xúc bằng mắt là điều kiện đầu tiên giúp bạn giao tiếp thành công. Tiếp xúc bằng mắt là một dấu hiệu đầy sức mạnh thể hiện sự kính trọng và quan tâm. Nếu bạn không nhìn một ai đó, họ sẽ nghĩ rằng bạn đang lo lắng, không chân thành hoặc thiếu quan tâm. Do vậy, trong khi trò chuyện, thỉnh thoảng hãy giao tiếp bằng mắt 1 đến 10 giây và hãy chú ý lắng hiện của ánh mắt khi giao tiếpTrong lúc trò chuyện, việc sử dụng đôi mắt đầy “ma lực” là cách thể hiện dễ dàng nhất để người nói biết được bạn có thực sự đang lắng nghe, chú ý đến họ hay là đang … ngán đến tận cổ như thế nào. Tuy nhiên, khi bạn luôn nhìn trực diện vào người nói, ánh mắt có thể toát lên vẻ trang nghiêm hay tươi rói, người nói sẽ hết sức phấn khởi vì họ cảm nhận được rằng, người nghe tôn trọng, thực tâm lắng nghe và hứng thú với những điều họ đang nói. Nếu như người nghe hạn chế sử dụng ánh mắt, người ta xem đó là biểu hiện của đau yếu, có mưu toan hoặc dối hiện của ánh mắt khi giao tiếpBạn có thể tham khảo thêm về cách giao tiếp ánh mắt để có thêm thông tin cần thiết cho kỹ năng quan trọng tiếp bằng nét mặtCon người có thể thể hiện chính mình hoặc biểu lộ cảm xúc, biểu lộ cái tôi thông qua sự biểu cảm ở khuôn mặt. Những trạng thái khác nhau biểu cảm trên khuôn mặt sẽ giúp bản thân mình tự tin hơn và dễ thành công hơn trong giao trong lòng thấy vui, khuôn mặt bạn trông thật rạng rỡ, các cơ trên mặt của bạn giãn căng. Ngược lại khi bạn buồn bực, trong lòng nặng trĩu thì các cơ trên khuôn mặt bạn cũng bị trùng xuống cho dù bạn có cố tình giấu đi tâm trạng đó những ngôn ngữ không lời trên khuôn mặt bạn lại cho thấy tất cười được xem là một trang sức trong lúc giao tiếp. Cười là dấu hiệu có tác động rất mạnh giúp truyền tải sự vui vẻ, thân thiện, nhiệt tình và thích thú. Cười thường dễ lây từ người này sang người khác và khiến cho việc giao tiếp được thuận lợi hơn. Người bạn giao tiếp sẽ cảm thấy thoải mái khi ở cạnh bạn và muốn lắng nghe bạn tiếp bằng hành độngThông thường, sau khi chào hỏi xã giao, người có kinh nghiệm bắt đầu chú ý đến các cử chỉ phi ngôn ngữ của người đối diện. Đó là những cử chỉ ở phái nữ như vuốt mái tóc hay lấy tay che miệng khi cười,… và những cử chỉ như huơ tay, nới cà vạt, … khi cuộc nói chuyện đang lên cao trào mà ta thường thấy ở phái nam. Có thể nói, trong rất nhiều tình huống, cử chỉ trợ giúp đắc lực cho lời nói. Nói kèm theo hành động phù hợp sẽ tác động hiệu quả hơn tới người giao nghiên cứu thực tế cho thấy rằng Bàn tay đưa lên ngực khi nói là một cử chỉ biểu hiện sự chân thật, chân thành. Ngón tay cái đưa lên cằm là cử chỉ biểu lộ thái độ chỉ trích và tiêu cực. Cử chỉ xoa cằm chỉ sự kiên định, quả quyết. Khi ai đó xoa mũi có nghĩa họ không muốn đề cập đến chủ đề này nữa. Cử chỉ đặt cặp kính lên môi có nghĩa là người đó đang do dự hay trì hoãn việc đưa ra quyết tiếp bằng tư thế và điệu bộNgười ta chuyển tải được hàng tấn thông điệp thông qua việc phát ngôn và chuyển động cơ thể. Ví dụ Khi tư thế đứng thẳng lưng, ngả người về phía trước, người ta sẽ hiểu bạn là người dễ gần, dễ tiếp thu và thân thiện. Tư thế ngồi nghiêm, cứng nhắc gây cho người đối diện có cảm giác bạn là người quá cứng nhắc, bảo thủ và nguyên tắc trong công việc. Tư thế ngồi khoanh tay trước ngực thể hiện sự kiêu căng, đôi khi bất lịch sự. Còn khoanh tay trên bàn lại là tư thế thụ động và thiếu tự cách và vị trí ngồi trong giao tiếp đều thể hiện thái độ, mục đích của mỗi người. Khi đứng nói chuyện trực diện, mặt đối mặt, điều đó thể hiện bạn muốn trò chuyện thẳng thắn, thân thiện về vấn đề nào đó. Khoảng cách và vị trí giữa hai người khi trò chuyện cho thấy bạn tôn trọng không gian riêng tư của người bạn đứng quá gần, người nghe sẽ cảm thấy mình bị lấn át và tỏ ra không dễ chịu. Một khoảng cách hợp lý giữa hai người sẽ tạo nên sự hài hòa, thoải mái trong buổi nói nghiêm túc, thẳng lưng, điều này cho thấy đó là người đang chú ý lắng nghe người đối diện đang trượt dài trên ghế, nó cho thấy người này đang không chú ý đến người đối diện đang nói gì, hoặc thể hiện một sự thiếu hợp tiếp thông qua động tác tay, chânKhi không thể diễn đạt được bằng lời nói, tốt hơn hết chúng ta nên sử dụng điệu bộ. Điệu bộ phản ánh chính xác, cảm giác, thái độ và ý định của con động tác tayNhiều người có quan điểm sai lầm rằng “vung vẫy” tay càng nhiều trong lúc nói chuyện thì hình ảnh của họ càng trở nên lôi cuốn. Trong thực tế, bạn chỉ nên sử dụng bàn tay để diễn giải vấn đề thêm rõ ràng trước người nghe. Hoạt động của bàn tay trong quá trình nói chuyện nên đúng mực, kết hợp khéo léo với quan điểm, thái độ bản thân, hoặc gắn kết với cao trào của câu chuyện cũng như tầm quan trọng của vấn tác tay, chân khi giao tiếp cũng thể hiện nhiều cảm xúcNếu khi đang nói chuyện người này có biểu hiện tì cả khuôn mặt lên lòng bàn tay, đó là dấu hiệu cho thấy bạn nói chuyện… nhạt như nước ốc. Còn nếu họ tì một ngón tay lên mặt, ấy là bạn đã thành công trong việc thu hút sự chú ý của người đối người đối diện bạn khoanh tay lại, chứng tỏ họ đang khép kín mình lại với các tác động bên ngoài. Mặc dù, một số người hành động chỉ theo thói quen nhưng điều đó cũng thể hiện rằng tính cách người đó khá dè dặt và không thoải mái lắm hay đang cố che giấu cái gì với một số người vừa khoanh tay lại vừa dang chân rộng ngang vai hay rộng hơn, điều này thể hiện đức tính bền bỉ, hoặc quyền uy của người này khá một người đặt tay ra sau gáy, điều đó thể hiện họ đang khó chịu hoặc đang lừa dối một người giơ tay lên sờ cằm, họ đang đánh giá, xem xét điều gì đó hoặc họ đang buồn người liên tục chạm vào cổ tay hay đồng hồ chứng tỏ họ đang rất bồn chồn và lo đút 2 tay vào túi quần khi nói chuyện cũng là tư thế cho thấy sự thiếu hứng này nắm lấy tay kia ở phía sau ở góc thấp là tư thế buồn bã, thất vọng. Nếu nắm ở góc cao, đó là tư thế tức giận. Còn khi chắp tay, nắm chặt cả 2 bàn tay ở sau lưng, tư thế này thể hiện sự ra oai với đối động tác của đôi chânKhi một người muốn kết thúc cuộc nói chuyện, hai tay họ thường chống xuống mặt ghế, người đổ về phía trước, chân đặt lùi ra sau chéo chân là một tư thế rất xấu khi nói chuyện. Tư thế ngồi này thể hiện sự ương ngạnh, hằn học, và không tôn trọng ý kiến người số người hướng bàn chân của họ về hướng mà họ muốn đi hay đang quan tâm. Vì vậy khi đang đứng nói chuyện hoặc giao tiếp, nếu bạn thấy người đối diện hướng bàn chân về một hướng khác, điều đó cho thấy bạn nên kết thúc sớm cuộc giao tiếp này. Còn nếu thấy bàn chân đối phương đang hướng thẳng về mình, chúc mừng bạn, bạn đã thành công thu hút người đó về những điều mình đang tiếp bằng giọng điệuGiao tiếp phi ngôn ngữ còn biểu hiện ở cách phát âm như chất giọng, độ cao thấp lên giọng, xuống giọng, nhịp điệu, âm sắc, tính kịch liệt hưởng ứng hay phản kháng, cách chuyển tông điệu.…Những chia sẻ về giao tiếp phi ngôn ngữ khác bạn có thể tham khảo thêm tại câu chuyện kinh luận Bài viết trên đã chia sẻ với các bạn những thông tin hữu ích về các hình thức giao tiếp bằng cử chỉ. Lời khuyên dành cho các bạn là chú ý những cử chỉ khi giao tiếp để tạo ấn tượng với đối phương ngay từ lần gặp đầu tiên nhé!Tác giả Phù Thủy Xin chào mọi người, mình là Phù Thủy, mình có đam mê với đồ ăn và đi du lịch khám phá khắp nơi. Sở thích của mình viết bài về nội thất và gia đình. Hiện tại mình đang chịu trách nhiệm viết bài cho trang nội thất Đức Khang, các bài viết đều được mình tổng hợp biên tập lại từ những nguồn uy tín về nội thất. Mình đang viết review sản phẩm bục phát biểu – bục tượng Bác thương hiệu Hòa Phát tại website các bạn ủng hộ mình nhé.
Liếc nhìn đồng hồ, điện thoạiHành động này sẽ khiến người ngồi cạnh cho rằng bạn đang thấy nhàm chán, không chú trọng những điều họ nói và muốn kết thúc cuộc nói chuyện sớm. Điều này gây mất điểm rất lớn, bạn có thể bị cho là coi thường người đối có việc quan trọng, bạn nên đặt chuông hẹn giờ trên điện thoại ở chế độ im lặng, đến lúc cần đi thì lịch sự nói xin lỗi. Mọi người thường đồng cảm khi họ hiểu về một tình huống hoặc vấn đề nhất chằm chằmDù rất tập trung vào câu chuyện bạn cũng chớ nhìn chằm chằm vào đối phương. Điều này sẽ khiến họ mất tự tin, giống như bạn đang áp bức họ. Hãy cố duy trì giao tiếp bằng mắt nhẹ nhàng, ấm áp nhưng không quá mãnh nhìn trực diệnViệc nhìn trực diện người mình đang nói chuyện với thái độ hứng khởi, chăm chú cho thấy bạn tôn trọng và quan tâm đến vấn đề của họ. Ngược lại không nhìn trực diện sẽ làm tổn thương lòng tự trọng của đối phương và có thể họ sẽ không muốn chia sẻ những vấn đề bạn quan tâm. Đừng đánh mất lợi thế trong giao tiếp chỉ vì cử chỉ nhỏ tay lỏng lẻoDù người lạ hay quen thì đều nhạy cảm với cử chỉ của bạn và thường lập tức phán đoán thái độ qua cái bắt tay."Nếu cái bắt tay thiếu chắc chắn, nó thể hiện bạn không quan tâm, không thích người mình tiếp xúc", Lillian Glass, Tiến sĩ, chuyên gia ngôn ngữ cơ thể nổi tiếng ở Beverly Hills, California, phân có một cái bắt tay chắc chắn nhưng không quá mạnh để đối phương cảm thấy gắn thế nên có một cái bắt tay chắc chắn để đối phương cảm thấy gắn bó và được coi trọng nhưng không quá mạnh vì một cái bắt tay quá mạnh lại thể hiện sự cạnh tranh, ganh xúc quá gầnTrừ khi đối phương là người thân thiết nếu không việc tiếp xúc gần thường khiến họ khó chịu và có cảm giác không an toàn. Việc giữ khoảng cách hợp lý giúp hai bên trở nên thoải mái hơn, chứng tỏ bạn đang tôn trọng sự tự do và không gian riêng đồ vật giữa hai ngườiViệc đặt túi xách hoặc laptop lên bàn giữa hai người sẽ tạo ra khoảng cách không cần thiết. Người nói chuyện với bạn sẽ cảm thấy bạn đang che giấu điều gì đó và ngại chia sẻ. Hãy đặt túi xách ra sau ghế và gấp laptop lại, xóa bỏ rào cản khi giao tiếp. Khi không có vật ngăn cách, hai người sẽ cảm thấy gắn kết tayĐộng tác khoanh tay có thể tạo cảm giác xa cách, khiến đối phương dễ hiểu lầm là bạn không muốn tiếp tục cuộc nói chuyện và muốn tránh né chân khỏi người trước mặtBàn chân của bạn hướng về phía nào sẽ thể hiện nơi bạn muốn đến. Nếu chân không hướng về phía người đối diện, sẽ gửi thông điệp bạn không ưu tiên cho cuộc trò chuyện ở mép ghếDiễn giả Anita Campbell cho rằng cách ngồi trong một cuộc họp hoặc một bữa tối có thể gửi đi nhiều thông điệp. Ngồi ở mép ghế cho thấy bạn không thoải mái, không tự tin. Muốn khẳng định bản thân, hãy ngồi thoải mái trên ghế, giữ tư thế thẳng, thư cằm khi nhìn ai đóVới nhiều người việc xoa cằm có thể là phản xạ tự nhiên theo thói quen nhưng người đối diện sẽ không thích, thậm chí cảm thấy khó chịu. Hành động của bạn giống như đang đánh giá, soi xét họ. Đừng xoa cằm khi nhìn ai đó nếu không muốn cuộc nói chuyện trở nên trầm lắng, gượng gạo.
Cử chỉ được tạo nên bởi tay, cánh tay hoặc cơ thể, và cũng bao gồm cả chuyển động của đầu, khuôn mặt và mắt, ví dụ như nháy mắt, gật đầu hoặc đảo mắt. Mặc dù những nghiên cứu về cử chỉ vần còn sơ sài, nhưng một số nhóm cử chỉ chính đã được xác định bởi các nhà nghiên cứu. Những cử chỉ phổ biến nhất được gọi là cử chỉ biểu trưng và cử chỉ trích dẫn. Những cử chỉ này có tính tập quán, những cử chỉ mang đặc trưng văn hóa có thể sử dụng thay thế cho ngôn ngữ, ví dụ như vẫy tay được sử dụng trong văn hóa phương Tây để ám chỉ “xin chào” hoặc “tạm biệt”. Mỗi cử chỉ biểu trưng có thể mang những ý nghĩa rất khác nhau trong những bối cảnh văn hóa khác nhau, từ khen ngợi cho tới cực kì khó chịu.[21] Có một số cử chỉ mang tính toàn cầu ví dụ như nhún vai.[6]Cử chỉ cũng có thể phân chia thành hai nhóm là cử chỉ phụ thuộc vào lời nói và cử chỉ liên quan tới lời nói. Cử chỉ phụ thuộc vào lời nói phụ thuộc vào việc giải thích được chấp nhận về mặt văn hóa và có một ý nghĩa phi ngôn ngữ trực tiếp.[12]9 Một cái vẫy tay hay một biểu tượng “hòa bình” là ví dụ cho cử chỉ phụ thuộc vào lời nói. Cử chỉ liên quan đến lời nói được sử dụng song song với lời nói, dạng giao tiếp phi ngôn ngữ này dùng để nhấn mạnh thông điệp đang được truyền tải. Cử chỉ liên quan đến lời nói nhằm mục đích cung cấp thông tin bổ sung cho một thông điệp bằng lời như chỉ vào một vật thể trong cuộc tranh cảm khuôn mặt, hơn tất cả, phục vụ như một phương thức thực tế của giao tiếp. Với nhiều nhóm cơ kiểm soát một cách chính xác miệng, môi, mắt, mũi, trán và cằm, khuôn mặt con người được cho rằng có khả năng biểu hiện hơn mười ngàn cảm xúc khác nhau. Sự linh hoạt này khiến tính phi ngôn ngữ của khuôn mặt đặc biệt hiệu quả và chân thực, trừ khi có sự cố tình thao túng. Thêm vào đó, đa số những cảm xúc sau đây, bao gồm vui vẻ, buồn bã, tức giận, sợ hãi, ngạc nhiên, khó chịu, xấu hổ, đau khổ và thích thú mang tính toàn cầu.[22]Hiển thị của cảm xúc nói chung có thể chia thành hai nhóm tiêu cực và tích cực. Cảm xúc tiêu cực thường biểu hiện bởi sự gia tăng căng thẳng trong các nhóm cơ siết chặt cơ hàm, nhăn trán, nheo mắt hoặc mím môi khi mà đôi môi gần như biến mất. Đối lập lại, cảm xúc tích cực được thể hiện thông qua sự nới lỏng của các nếp nhăn trên trán, thư giãn các cơ quanh phần miệng và mở to mắt. Khi một cá nhân thực sự thư giãn và thoải mái, thì đầu của họ cũng sẽ ngả sang một bên, để lộ ra phần cổ, nơi dễ bị tổn thương nhất. Đây là tư thế thoải mái cao độ nhất, thường nhìn thấy trong giai đoạn tán tỉnh, và gần như không thể bắt chước trong khi căng thẳng hoặc nghi ngờ.[23]Cử chỉ có thể chia thành ba nhómMô phỏngMột số chuyển động của bàn tay không được coi là cử chỉ. Chúng bao gồm các thao tác đối với cả người và một số vật dụng ví dụ như quần áo, bút chì, mắt kính – các loại chuyển động mà một người thường làm bằng tay như gãi, cựa quậy, cọ sát, chạm và gõ nhịp. Những hành động đó được gọi là mô phỏng. Những chuyển động này có thể không có ý nghĩa liên quan đến lời nói mà nó đi cùng nhưng có thể coi là cơ sở để xác định khuynh hướng cảm xúc của người nói lo lắng, khó chịu, buồn chán[7]Biểu tượngNhững chuyển động của bàn tay khác lại được coi là cử chỉ. Chúng là những chuyển động với một ý nghĩa cụ thể, có tính quy ước được gọi là cử chỉ mang tính biểu tượng. Những cử chỉ tượng trưng quen thuộc bao gồm “vung tay”, “tạm biệt” và “ngón tay cái hướng lên”. Đối lập với cử chỉ mô phỏng, cử chỉ mang tính biểu tượng được sử dụng một cách có chủ định và phục vụ một chức năng giao tiếp rõ ràng. Mỗi nền văn hóa có những quy ước về cử chỉ của riêng họ, mà một số là đặc biệt đối với một nền văn hóa cụ thể. Những cử chỉ rất giống nhau có thể có những ý nghĩa rất khác biệt giữa các nền văn hóa. Cử chỉ mang tính biểu tượng thường được dùng thay thế cho lời nói, nhưng cũng có thể dùng kèm với lời nói.[7]Đối thoạiNằm giữa cử chỉ mô phỏng và cử chỉ mang tính biểu tượng chính là cử chỉ đối thoại. Những cử chỉ này không bổ sung cho hành động hay từ ngữ nhưng lại đi kèm với lời nói. Những cử chỉ đối thoại là chuyển động của bàn tay đi kèm với lời nói hoặc là có liên quan tới lời nói mà chúng đi kèm. Chính vì chúng luôn đi kèm với lời nói nên cử chỉ đối thoại không bao giờ thấy trong trường hợp vắng mặt lời nói và chỉ được tạo ra bởi những người đang nói.[7]
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNGTRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOANGUYỄN THỊ THƯƠNGNHẬN DẠNG CỬ CHỈ TAY TRONGGIAO TIẾP NGƯỜI-MÁY VÀ ỨNG DỤNGHỖ TRỢ CHỌN TRANG PHỤCChuyên ngành Khoa học máy tínhMã số TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÁY TÍNHĐà Nẵng – Năm 2017Công trình được hoàn thành tạiTRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOANgười hướng dẫn khoa học TS. Huỳnh Hữu HưngPhản biện 1 Trần Quốc ChiếnPhản biện 2 Lê Mạnh ThạnhLuận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốtnghiệp thạc sĩ khoa học máy tính họp tại Trường Đại họcBách khoa vào ngày 13 tháng 08 năm thể tìm hiểu luận văn tại- Trung tâm học liệu, Đại học Đà nẵng tại trường Đại họcBách khoa- Thư viện khoa Công nghệ thông tin, Trường Đại học Báchkhoa - Đại học Đà Nẵng1MỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tàiMáy tính xuất hiện là một bước phát minh lớn của nhân loại, nógiúp con người làm việc hiện quả hơn, bên cạnh đó để giao tiếp đượcvới máy tính thì phải thông qua các thiết bị như chuột, phím,… thườnggây nên bất nay, các phương thức giao tiếp người-máy truyền thốngđang được từng bước thay thế bởi các phương pháp mới nhằm mụcđích nâng cao hiệu suất lao động. Kỹ thuật phát hiện và nhận dạng cửchỉ tay được ứng dụng trong lĩnh vực giao tiếp người-máy là một trongsố các phương pháp giao tiếp mới đó. Nhận dạng các cử chỉ của tayngười là cách tự nhiên khi giao tiếp người–máy. Cử chỉ tay cho phépcon người tương tác với máy rất dễ dàng và thuận tiện mà không cầnphải mang thêm bất kỳ thiết bị ngoại vi cạnh đó, với nhịp sống hiện đại thì nhu cầu làm đẹp, muasắm trang phục của con người ngày càng cao. Người dùng thường tiêutốn nhiều thời gian và công sức trong việc chọn, thử và phối hợp cácloại trang phục áo quần, túi xách, khăn quàng cổ,…. Do đó, rất cầnnhững thiết bị để giúp con người chọn và thử các loại trang phục đượctrực quan và dễ dàng; đồng thời cũng giúp người dùng dễ dàng biếtđược cách phối các loại trang phục với nhau đảm bảo sự hài hòa vàtính thẩm mĩ động giáo dục nghề phổ thông lớp 11 được Bộ Giáo dụcvà Đào tạo đưa vào triển khai giảng dạy chính thức từ năm học 20072008 thời lượng 105 tiết/năm học với nhiều loại nghề khác nhau,trong đó có nghề may nhằm giúp học sinh am hiểu hơn về các lĩnh vựcnghề nghiệp phổ biến trong xã hội để từ đó định hướng nghề nghiệptốt hơn. Bản thân là một giáo viên THPT, tôi nhận thấy học sinh cònnhiều lúng túng trong việc chọn và phối các mẫu thiết trang phục…như thế nào cho phù hợp dáng người và để từ đó có thể thu hút đượcsự quan tâm, yêu thích của học sinh đối với bộ môn những lí do trên, tôi đề xuất chọn đề tài luận văn cao học là“Nhận dạng cử chỉ tay trong giao tiếp người - máy và ứng dụng hỗtrợ chọn trang phục”.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên Mục đích nghiên cứuMục đích chính của đề tài là xây dựng giải pháp nhận dạng cửchỉ tay của con người từ dữ liệu thu được trên thiết bị Kinect để xâydựng chương trình ứng dụng cho phép người dùng thực hiện việc chọntrang phục bằng cử chỉ Nhiệm vụ nghiên cứuLuận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề sau- Phân tích, trích chọn đặc trưng và nhận dạng cử chỉ Đưa ra giải pháp thích hợp đáp ứng mục đích của đề Viết chương trình để kiểm tra tính hiệu quả của giải Đối tượng và phạm vi nghiên Đối tượng nghiên cứuLuận văn tập trung tìm hiểu những vấn đề sau- Các cử chỉ Các kỹ thuật trích chọn đặc trưng cử chỉ tay- Các kỹ thuật nhận dạng cử chỉ Phạm vi nghiên cứuLuận văn tập trung trong phạm vi- Nghiên cứu kỹ thuật xử lý ảnh và nhận dạng cử chỉ Nghiên cứu các kỹ thuật trích chọn đặc trưng cử chỉ tay tĩnhvà cử chỉ tay Nghiên cứu nhận dạng cử chỉ tay dựa trên video thu được từcamera Phương pháp nghiên Phương pháp lý thuyếtLuận văn tập trung nghiên cứu một số lý thuyết như sau- Các tài liệu về cử chỉ tay, nhận dạng cử chỉ tay trong lĩnh vựcxử lý ảnh và thị giác máy Cơ sở lý thuyết về các thuật toán trích chọn đặc trưng và nhậndạng cử chỉ tay từ video thu được trên Phương pháp thực nghiệmLuận văn nghiên cứu một số vấn đề về thực nghiệm như sau- Cài đặt chương trình ứng dụng dựa trên giải pháp đề Triển khai thực nghiệm với thiết bị Kiểm thử hiệu quả của chương trình với các cử chỉ tay Giải pháp đề xuấtLuận văn đề xuất mô hình hệ thống nhận dạng cử chỉ tay ứngdụng hỗ trợ chọn trang phục như sau46. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề Ý nghĩa khoa học của đề tàiVề mặt khoa học, đề tài sẽ mang ý nghĩa cung cấp về mặt lýthuyết để làm rõ về quá trình và các phương pháp nhận dạng cử chỉtay. Kết quả thu được là hệ thống nhận dạng cử chỉ tay người, hỗ trợviệc chọn và thử trang phục cho con người trực quan, dễ Ý nghĩa thực tiễn của đề tàiVề mặt thực tiễn, đề tài góp phần hỗ trợ cho việc điều khiển máytính làm việc bằng cử chỉ tay một cách hiệu quả, nâng cao hiệu quảgiao tiếp giữa người và máy, đáp ứng nhu cầu thực tế của con ngườitrong lĩnh vực thời Kết quả dự kiếnLuận văn dự kiến sẽ đạt được những kết quả sau- Trích chọn được các đặc trưng của cử chỉ tay- Đưa ra được giải pháp cho vấn đề nhận dạng cử tay từ videohiệu Xây dựng chương trình thực nghiệm nhận dạng cử chỉ tay đểchọn trang phục cho người Cấu trúc luận vănNội dung của luận văn được trình bày với các phần chính như sauMở đầuChương 1 - Nghiên cứu tổng quan về nhận dạng cử chỉ taytrong giao tiếp 2 - Một số kỹ thuật trích chọn đặc trưng và nhậndạng hình ảnh cử chỉ bàn 3 - Xây dựng hệ thống nhận dạng cử chỉ tay hỗ trợchọn trang luận và hướng phát 1 - TỔNG QUAN VỀ NHẬN DẠNGCỬ CHỈ TAY TRONG GIAO TIẾP NGƯỜI - NHẬN DẠNG CỬ CHỈ TAY TRONG GIAO TIẾP NGƯỜI-MÁYTrong cuộc sống hàng ngày, con người thực hiện rất nhiều cáccử chỉ khác nhau. Đó là điều tự nhiên để cải thiện và nâng cao thôngtin liên lạc giữa người với người. Trong tất cả các loại cử chỉ mà conngười sử dụng, cử chỉ tay đóng một vai trò quan trọng. Sử dụng cử chỉtay có thể giúp chúng ta thể hiện được nhiều thông tin hơn trong thờigian ngắn hơn. Ngày nay, máy tính đã trở thành một phần quan trọngtrong cuộc sống của chúng ta, vậy tại sao không sử dụng cử chỉ tay đểgiao tiếp với chúng. Việc sử dụng trực tiếp của bàn tay người như một“thiết bị đầu vào” là một phương pháp hấp dẫn để con người có thểgiao tiếp tự nhiên với máy tính [5]. Một ưu điểm khác là người dùngcó thể giao tiếp từ xa mà không cần phải tiếp xúc vật lý với máy nhận dạng cử chỉ tay, bước đầu tiên trong hệ thống nhận dạnglà phát hiện ra cử chỉ tay bằng một thiết bị cảm nhận camera/webcam,để thu thập các quan sát cần cho việc phân loại hay miêu tả. Trong luậnvăn này, thiết bị cảm nhận được sử dụng để thu nhận cử chỉ tay làKinect. Kinect là camera tích hợp cảm biến chiều sâu được phát triểnbởi hãng đó, tiến hành xử lý hình ảnh, trích chọn đặc trưng để tínhtoán các thông tin dưới dạng số hay dạng biểu tượng từ các dữ liệuquan sát và thực hiện công việc phân loại dựa vào các đặc tính đã đượctrích chọn để nhận dạng cử chỉ. Các cử chỉ của bàn tay được phát hiệndựa trên tập dữ liệu về cử chỉ tay mẫu được thu thập từ trước thôngqua hình ảnh từ webcam/video. Nhiệm vụ quan trọng của bài toán nhậndạng cử chỉ tay là phải cho máy tính “học” và “huấn luyện” trên nhữngcử chỉ tay mẫu để nó có thể nhận dạng cử chỉ tay một cách chính MÔ HÌNH BÀN TAY NGƯỜIMô hình xương bàn tay người có cấu trúc như sau [5] bàn taycon người gồm 27 xương, trong đó có 8 xương ở cổ tay và 19 xươngcho lòng bàn tay và ngón tay. Các xương này được kết nối với nhaubởi các khớp nối có một hay nhiều bậc tự do. Tổng cộng có 26 bậc tựdo. Trong đó, cổ tay có 6 bậc tự do với 3 bậc tự do cho chuyển độngtịnh tiến trong không gian và 3 bậc tự do cho chuyển động xoay quanhcác trục. Năm ngón tay, mỗi ngón có 4 bậc tự do với 2 bậc cho khớpgốc ngón tay gập/ngửa và khép/mở và 1 bậc cho mỗi khớp còn PHÂN LOẠI CỬ CHỈ TAYMỗi cử chỉ tay là một cấu hình bàn tay đặc biệt đại diện bởi mộthình ảnh duy nhất. Có nhiều cách để phân loại cử chỉ tay, thông thườngcử chỉ tay được phân loại dựa trên mối quan hệ thời gian. Khi đó, cửchỉ tay được phân thành 2 loại cử chỉ tay tĩnh và cử chỉ tay động [42]. Cử chỉ tay tĩnhCử chỉ tay tĩnh là cử chỉ tay mà trong đó vị trí tay không thayđổi theo thời gian độc lập với thời gian. Cử chỉ tay tĩnh chủ yếu dựavào hình dạng và góc uốn của ngón tay. Cử chỉ tay tĩnh là cử chỉ taydiễn đạt một trạng thái duy nhất của bàn Cử chỉ tay độngCử chỉ tay động là cử chỉ tay mà trong đó vị trí tay thay đổi liêntục theo thời gian phụ thuộc vào thời gian. Trong thực tế, nhiều cử chỉtay được tạo ra bởi cách chúng ta di chuyển bàn tay như hướng đi, quỹđạo hay tốc độ thực hiện. Như vậy có thể thấy cử chỉ tay động chủ yếudựa vào quỹ đạo, hướng đi của bàn tay, thêm vào đó là hình dáng vàgóc uốn của ngón TIẾN TRÌNH NHẬN DẠNG CỬ CHỈ Sơ đồ khối của hệ thống nhận dạng cử chỉ tayTiến trình nhận dạng cử chỉ tay cơ bản có dạng như sau [41]DỮ LIỆUVÀOTIỀN XỬ LÝTRÍCH ĐẶCTRƯNGNHẬN DẠNGHình – Sơ đồ khối của hệ thống nhận dạng cử chỉ Dữ liệu vàoDữ liệu vào có thể là một hình ảnh, hoặc một chuỗi các hìnhảnh, được chụp bởi một máy ảnh duy nhất hướng về phía bàn tay ngườithực hiện các cử chỉ. Tuy nhiên, cũng tồn tại các hệ thống sử dụng haihoặc nhiều máy ảnh để thu được nhiều thông tin về các tư thế Tiền xử lýMục đích cơ bản của giai đoạn này là tối ưu hình ảnh thu đượctừ giai đoạn trước để chuẩn bị trích xuất các đặc trưng trong giai đoạntiếp theo. Tiền xử lý ảnh là bắt buộc để nâng cao chất lượng ảnh đồngthời cải thiện độ chính xác của hệ thống được đề xuất. Dưới đây là mộtsố kỹ thuật tiền xử lý thường được áp dụng trong giai đoạn nàya. Chuyển ảnh RGB sang ảnh nhị phânẢnh nhị phân là ảnh mà giá trị của các điểm ảnh chỉ được biểudiễn bởi một trong hai giá trị 0 màu đen hoặc 1 màu trắng. Chẳnghạn những điểm ảnh trong vùng tay có màu trắng và điểm ảnh nền cómàu Lọc nhiễuTrong ảnh nhị phân, có thể có một số giá trị 0 trong vùng tay vàcó một số giá trị 1 trong khu vực nền. Khi đó, nền có những số 1 đượcbiết đến như nhiễu xung quanh và cử chỉ tay có một vài số 0 được biếtđến như nhiễu cử chỉ. Những nhiễu này cần phải được loại Phân đoạn ảnhMục tiêu của phân đoạn ảnh là làm nổi bật hoặc tách hẳn đốitượng cần quan tâm ra từ ảnh ban đầu, làm đơn giản hóa và thay đổicách biểu diễn để dễ dàng phân tích hơn. Một số kỹ thuật phận đoạnảnh phổ biến nhưPhân đoạn ảnh dựa trên ngưỡngPhân đoạn ảnh dựa trên biên cạnhPhân đoạn ảnh dựa vào màu Trích chọn đặc trưngTrích chọn đặc trưng là chiết xuất thông tin từ dữ liệu thô mà nóphù hợp nhất cho mục đích nhận dạng để giảm thiểu các biến thể trongmột lớp và tối đa hóa các biến thể giữa các lớp khác giai đoạn trích chọn đặc trưng, mỗi đối tượng được đạidiện bởi một véc tơ đặc trưng. Mục tiêu chủ yếu của trích chọn đặctrưng là trích xuất một tập hợp các đặc trưng, trong đó có thể tối đahóa tỷ lệ nhận dạng với sự nhầm lẫn nhỏ nhất. Các đặc điểm của đphải là cử chỉ có ý Lựa chọn đặc trưng phù hợpLựa chọn đặc trưng rất quan trọng trong việc nhận dạng, bảnthân việc chọn đặc trưng là để giảm số chiều xử lý nhưng phải đảmbảo mô tả được đối tượng tương đối đầy Tốc độ xử lý và tính chính xác trong nhận dạngĐể hệ thống nhận dạng cử chỉ tay có thể tương tác được vớingười dùng trong thực tế thì hệ thống này phải có tốc độ xử lý nhanhvà phương pháp nhận dạng phải đáp ứng được yêu cầu là độ chính xáccao. Đây là yêu cầu quan trọng nhất của một hệ thống nhận MỘT SỐ ỨNG DỤNG DỰA TRÊN NHẬN DẠNG CỬ CHỈ Ứng dụng trong thực tế Ứng dụng trong điều khiển Điều khiển máy Ứng dụng trong y Ứng dụng trong lĩnh vực giải Ứng dụng trong ngôn ngữ ký hiệu11CHƯƠNG 2 - MỘT SỐ KỸ THUẬT TRÍCHCHỌN ĐẶC TRƯNG VÀ NHẬN DẠNG CỬ CHỈ MỘT SỐ KỸ THUẬT TRÍCH CHỌN ĐẶC TRƯNG CỬ CHỈ Phân tích thành phần chính - PCAPCA là một thuật toán thống kê sử dụng phép biến đổi trựcgiao để biến đổi một tập hợp dữ liệu từ một không gian nhiều chiềusang một không gian mới ít chiều hơn nhằm tối ưu hóa việc thể hiện sựbiến thiên của dữ liệuMục tiêu của PCA là đưa không gian đặc trưng có số chiều lớnvề không gian đặc trưng có số chiều nhỏ hơn sao cho vẫn đảm bảođược “tối đa thông tin quan trọng nhất”, với mục đích giảm thời giantính toán và tìm kiếm. Các trục tọa độ trong không gian mới được xâydựng sao cho trên mỗi trục, độ biến thiên của dữ liệu trên đó là lớnnhất có Kỹ thuật HOGHOG dựa trên việc đếm số lần xuất hiện của các hướng đạo hàmtrong các vùng cục bộ ảnh. Ý tưởng cơ bản của HOG là hình dạng đốitượng trong ảnh có thể được đặc trưng tốt bởi sự phân bố theo hướngcủa sự thay đổi mức xám gradient hay theo hướng của biên đối tượng[10]. HOG được tính bằng cách chia ảnh thành các vùng không giannhỏ hơn gọi là các “tế bào” cells, mỗi cell này tích lũy histogram 1chiều cục bộ về các hướng gradient hoặc định hướng biên trên cácđiểm ảnh nằm trong cell. Các cell nằm cạnh nhau được gộp lại thànhmột khối block, các khối có thể chồng lên nhau với mục đích tăngcường mối quan hệ trong không gian giữa các điểm ảnh. Các histogramcủa khối được kết hợp với nhau tạo thành vector đặc Kỹ thuật trích đặc trưng cục bộ bất biến - SIFTSIFT - phép biến đổi đặc tính bất biến tỉ lệ, do David xuất. Đối với bất kỳ một đối tượng nào trong ảnh sẽ có rất nhiềuđặc trưng để mô tả, tuy nhiên David chỉ ra rằng có các điểmđặc biệt trên đối tượng có thể trích chọn mô tả tốt cho đối tượng, còngọi là các điểm hấp dẫn điểm quan trọng. Điểm hấp dẫn là vị trí điểmảnh "hấp dẫn" trên ảnh. "Hấp dẫn" ở đây có nghĩa là điểm đó có thể cócác đặc trưng bất biến với việc quay ảnh, co giãn ảnh hay thay đổicường độ chiếu sáng của ảnh. Mô tả này có thể được sử dụng để xácđịnh đối tượng trong một ảnh chứa rất nhiều đối tượng khác đặc trưng cục bộ bất biến SIFT của ảnh thì bất biến với việcthay đổi tỉ lệ ảnh, quay ảnh, đôi khi là thay đổi điểm nhìn và thêmnhiễu ảnh hay thay đổi cường độ chiếu sáng của ảnh[18-20].Thuật toán SIFT được tiếp cận theo phương pháp thác lọc [38]- Bước 1. Phát hiện các điểm cực trị trong không gian tỉ lệ- Bước 2. Định vị các điểm hấp dẫn- Bước 3 Xác định hướng cho các điểm hấp dẫn- Bước 4 Mô tả các điểm hấp Kỹ thuật Haar-LikeMột kỹ thuật trích chọn đặc trưng dựa trên phân bố mức xám làphép biến đổi Haar-Like do Viola và Jones công bố. Đặc trưng HaarLike [11] là một loại đặc trưng thường được dùng cho bài toán nhậndạng trên ảnh. Đặc trưng Haar-Like dựa trên ý tưởng tính độ chênhlệch giữa các giá trị mức xám của các điểm ảnh trong các vùng kề nhautrong ảnh xám, mỗi đặc trưng là sự kết hợp của các hình chữ nhật“trắng” hay “đen” theo một trật tự, kích thước nào ích của đặc trưng Haar-Like là nó diễn đạt được tri thức vềcác đối tượng trong ảnh vì nó biểu diễn mối liên hệ giữa các bộ phận13của đối tượng, điều mà bản thân từng điểm ảnh không diễn đạt trị của đặc trưng Haar-Like là sự chênh lệch giữa tổng giá trị cácđiểm ảnh của các vùng đen và các vùng Kỹ thuật GISTHình dáng bàn tay cũng là một thông tin quan trọng để phân biệtcác cử chỉ tay khác nhau. Để trích đặc trưng về hình dáng bàn tay ta sửdụng đặc trưng GIST [27]. Đặc trưng GIST thuộc nhóm đặc trưng biếnđổi toàn cục và triển khai chuỗi. Khác với đặc trưng SIFT, GIST làmột đặc trưng toàn cục biểu diễn nội dung ảnh được Oliva &Torralbađề xuất năm 2001. Phương pháp GIST rút trích từ ảnh tập hợp các đặctrưng quan trọng như tính tự nhiên, mở rộng, độ nhám, độ chắc chắn,cho phép trình bày cấu trúc không gian của một tính toán đặc trưng mô tả GIST, ảnh đầu vào được đưa vềdạng vuông, chia thành lưới 4 x 4, các tổ chức đồ theo hướng tươngứng được trích ra. Nguyên lý trích đặc trưng dựa vào phép biến đổiGabor theo các hướng và tần số khác nhau. Như vậy, đặc trưng GISTthể hiện dưới dạng một vectơ và mỗi vectơ này được được tính toán từkết quả của việc áp dụng bộ lọc Gabor lên ảnh. Từ dữ liệu đầu vào, saukhi trích đặc trưng sẽ cho ra một vectơ 960 chiều. Sau bước trích đặctrưng này, tập dữ liệu ảnh đưa về dạng bảng hay ma trận mà ở đó mỗiảnh là một dòng có 960 cột chiều. Kỹ thuật trích đặc trưng xương ảnh của bàn tay* Đặc trưng xương ảnh là gì?Xương được coi như hình dạng cơ bản của một đối tượng, vớisố ít các điểm ảnh cơ bản. Ta có thể lấy được các thông tin về hìnhdạng nguyên bản của một đối tượng thông qua xương của ảnh lần đầu tiên được xác định bởi tác giả Blum năm1976, đây là cách mô tả hình dạng rất hữu ích và quan trọng cho nhận14dạng đối tượng vì nó chứa các đặc trưng hình dạng của đối tượng trích xuất đặc trưng xương ảnh của đối tượng tay, một tập hợpcác tham số của vùng xương tay sẽ được tính toán. Các thuộc tínhmong muốn của bộ xương là bảo toàn cấu trúc liên kết của đối tượng,chống lại tốt phép dịch, phép quay và tỷ lệ mở rộng, mỏng độ rộngkhông quá 2 pixel. Có nhiều phương pháp và thuật toán được dùng đểtrích rút bộ xương phương pháp phân tích, phương pháp hình thái học,phương pháp làm mỏng mảnh và phương pháp dựa trên phép biếnđổi khoảng cách.* Phương pháp tìm xương ảnhViệc khai thác xương ảnh của vùng tay sẽ được thực hiện dựatrên phép biến đổi khoảng cách Chamfer như mô tả trong [33].* Tham số hóa bộ xươngBộ xương tay thu được sẽ được sử dụng để chiết xuất đặc điểmcử chỉ tay. Đối với mỗi cử chỉ tay, một bộ tham số dựa trên các tínhchất hình học của bộ xương sẽ được tính toán. Vị trí của một số điểmquan trọng cũng sẽ được phân tích điểm đầu cuối, giao lộ, phân MỘT SỐ KỸ THUẬT NHẬN DẠNG CỬ CHỈ Kỹ thuật K-láng giềng gần nhấtK-láng giềng gần nhất K-NN là phương pháp để phân lớp cácđối tượng dựa vào khoảng cách gần nhất giữa đối tượng cần phân lớpvà tất cả các đối tượng trong tập dữ liệu [32], các tác giả đã xây dựng hệ thống nhận dạng các sốtừ 0 đến 9 tương ứng với 10 cử chỉ tay khác nhau dựa trên các phươngpháp phân loại K-NN, SVM và BBNN. Trong đó, kết quả nhận dạngcủa hệ thống sử dụng K-NN đạt độ chính xác 96%, sử dụng SVM đạtđộ chính xác 98,4% và sử dụng BBNN đạt 93,01%. Kỹ thuật sử dụng mạng nơ-ron nhân tạo - ANNANN là một mô hình xử lý thông tin phỏng theo cách thức xửlý thông tin của các hệ nơ-ron sinh học, được nghiên cứu ra từ hệ thốngthần kinh của sinh vật, giống như bộ não để xử lý thông cứu [43] sử dụng ANN để nhận dạng cử chỉ tay. Tiếnhành thử nghiệm với 4 kiểu cử chỉ tay, mỗi kiểu sử dụng 100 khunghình, kết quả đánh giá tỉ lệ nhận dạng chính xác đạt tối đa là 97%, tỉlệ nhận dạng chính xác chung của hệ thống đạt [30], các tác giả đã xây dựng hệ thống nhận dạng cử chỉtay tĩnh bằng ANN. Hệ thống chọn nhận dạng10 chữ cái A, B, C, D,G, H, I, L, V, Y tương ứng 10 cử chỉ tay. Quá trình huấn luyện, hệthống sử dụng 450 mẫu, trong đó một cử chỉ tay có thể có nhiều gócnhìn khác nhau. Quá trình thử nghiệm, hệ thống sử dụng 445 mẫu từnhiều nguồn khác nhau. Kết quả thử nghiệm cho độ chính xác là 98%. Kỹ thuật sử dụng máy vector hỗ trợ - SVMSVM là một thuật toán học máy nổi tiếng được sử dụng để giảiquyết bài toán phân lớp, SVM sẽ cố gắng tìm cách phân loại dữ liệusao cho lỗi xảy ra trên tập kiểm tra là nhỏ nhất [23]. SVM được xâydựng trên cơ sở hai ý tưởng chínhÝ tưởng thứ nhất Ánh xạ dữ liệu gốc sang một không gianmới gọi là không gian đặc trưng với số chiều lớn hơn, sao cho trongkhông gian mới có thể xây dựng một siêu phẳng cho phép phân chiadữ liệu thành hai lớp riêng biệt, mỗi lớp bao gồm các điểm có cùngnhãn phân tưởng thứ hai Trong số những siêu phẳng như vậy cần lựachọn siêu phẳng có mức lề lớn nhất còn được gọi là siêu phẳng phâncách tối ưu. Lề ở đây được xác định bằng khoảng cách giữa các điểmgần siêu phẳng nhất mà chúng thuộc về hai phía của siêu [25], Md. Hafizur Rahman và Jinia Afrin đã đề xuất hệthống nhận dạng cử chỉ tay bằng cách sử dụng SVM đa lớp để phânloại 10 cử chỉ tay tương ứng với A, B, C, D, G, H, I, L, V, Y. Hệ thốngnhận dạng cho hiệu suất tốt, có thể cho kết quả nhận dạng chính xácđạt đến 92%.Trong [45], hệ thống nhận dạng cử chỉ tay tĩnh cho ngôn ngữ kýhiệu Hoa Kỳ bằng cách sử dụng đặc trưng Edge Oriented HistogramEOH và SVM đa lớp được xây dựng. Các kết quả thực nghiệm chứngminh rằng hệ thống được đề xuất cho tỷ lệ thành công 93,75%. Sử dụng mô hình Markov ẩn - HMMHMM được bắt đầu xây dựng và công bố từ những năm 1960,đây là mô hình toán học về thống kê. Từ năm 1980, mô hình này đượcbắt đầu nghiên cứu để ứng dụng trong lĩnh vực nhận [47], Lang và các tác giả sử dụng mô hình Markov ẩn chohệ thống nhận dạng ngôn ngữ ký hiệu sử dụng Kinect. Kết quả nhậndạng của hệ thống đạt trên 97% với 8 trong 9 dấu hiệu đào tạo do nhiềungười thực [53], Tanibata và các tác giả đã phát triển hệ thống nhậndạng ngôn ngữ ký hiệu Nhật Bản không sử dụng găng tay mà dùngmột máy ảnh để thu nhận dữ liệu đầu vào với ảnh nền bất kỳ. Để nhậndạng các từ trong ngôn ngữ ký hiệu Nhật Bản, hệ thống sử dụng mộtchuỗi gồm 6 tính năng đặc trưng cho mô hình Markov ẩn phân loại vànhận dạng. Trong thử nghiệm hệ thống nhận dạng ngôn ngữ ký hiệuNhật Bản đạt tỉ lệ thành công tối đa 64/65 [46], HMM được sử dụng thành công để phân biệt lênđến 40 cử chỉ tay khác nhau với độ chính xác lên đến 91,9%.17CHƯƠNG 3 - XÂY DỰNG HỆ THỐNG NHẬN DẠNGCỬ CHỈ TAY ỨNG DỤNG HỖ TRỢ CHỌN TRANG MÔ TẢ BÀI TOÁNBài toán được mô tả dưới dạng sơ đồ sauHình - Sơ đồ khối của bài GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT CỦA HỆ Sơ đồ hoạt động của hệ thốngHình - Sơ đồ hoạt động của hệ Tiến trình nhận dạng cử chỉ tay của hệ thốngHình – Tiến trình nhận dạng cử chỉ tay của hệ Phát hiện bàn tayGiải pháp được đề xuất trong luận văn này sử dụng cameraKinect làm thiết bị thu nhận ảnh. Nhờ có 2 cảm biến thu và phátsóng hồng ngoại, camera Kinect được sử dụng trong luận văn nàycó khả năng xây dựng ảnh độ sâu trong vùng không gian thuộc phạmvi từ đến tính đến tâm Tiền xử lýTrong luận văn này, chuẩn hóa kích thước ảnh được thực hiệnthông qua hai bước ghép vùng ảnh để tạo ra ảnh vuông và đưa kíchthước ảnh về một giá trị cố định 100×100 pixel.Sau đó, dựa vào các hàm hỗ trợ trong bộ thư viện MicrosoftKinect SDK để xây dựng các hàm để có thể lấy dữ liệu khung xươngvà hàm lấy trạng thái của bàn tay phải của đối Trích chọn đặc trưngNhư đã giới thiệu, camera Kinect cho phép theo dõi khungxương của người đứng trước camera, cụ thể là với mỗi khung hìnhcamera Kinect thu được 25 khớp xương mỗi khớp xương là mộtđiểm trong không gian 3 chiều chiều ngang, chiều dọc và chiều sâutương ứng với 25 tọa độ x,y,z. Đặc trưng được dùng để biểu diễn đốitượng trong luận văn này là đặc trưng hình học của khung xương, vị19trí tọa độ khớp xương và tọa độ bàn tay phải của đối tượng. Sau khi cócác hàm lấy dữ liệu khung xương ở giai đoạn tiền xử lý rồi thì việc lấytọa độ các khớp xương là rất dễ khuôn khổ luận văn, tôi chỉ dùng tọa độ đốt xương cuốicủa cột sống để xác định mốc tọa độ cho trang phục áo quần có thểlấy thêm tọa độ khớp xương cổ. Để xác định mốc tọa độ cho khănquàng cổ tôi sử dụng tọa độ khớp xương cổ. Đối với mốc tọa độ củatúi xách tôi lấy tọa độ khớp xương của bàn độ bàn tay phải cũng được lấy tương tự các khớp xươngkhác. Việc xác định trạng thái nắm, mở của bàn tay phải thì thư việnSDK đã có sẵn. Muốn phân biệt được nhiều trạng thái tay khác nhauthì có thể dùng SVM để huấn định ngưỡng cho các nút điều khiển Hệ thống sẽ được thiếtkế các nút điều khiển để làm việc, do đó cần quy định ngưỡng tọa độcho các nút này. Trong luận văn, tôi tiến hành khoanh một vùng cókích thước 30*30 có tâm là tọa độ của nút đó. Vùng này tạm gọi làvùng chọn. Khi bàn tay phải rơi vào vùng chọn và trạng thái bàn tayphải nắm thì lệnh điều khiển sẽ được thực Huấn luyện và nhận dạng cử chỉ tayPhương pháp huấn luyện và nhận dạng cử chỉ tay sử dụng trongluận văn này là SVM phương pháp SVM đã được trình bày trongchương 2. Tuy nhiên, luận văn chỉ sử dụng cử chỉ tay đơn giản cử chỉnắm/mở của bàn tay, dùng các hàm có sẵn trong bộ thư viện MicrosoftKinect SDK – đây là những hàm đã được hệ thống sử dụng SVM đểhuấn luyện trước. Do đó, nhiệm vụ quan trọng là cần phải trích chọncác đặc trưng sao cho phù hợp với yêu cầu dữ liệu vào của hàm XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ỨNG Tổng quan về chương trìnhHình – Sơ đồ mô tả chương trình ứng Xây dựng CSDL hình ảnh trang phụcẢnh trang phục được sử dụng trong chương trình ứng dụng gồmcác loại Áo quần, khăn quàng cổ và túi xách dành cho nữ Thuật toánCamera Kinect cung cấp tọa độ nhiều khớp xương trên cơ viện Microsoft Kinect SDK hỗ trợ các hàm để có thể bắt tọa độcác khớp xương và đặc biệt là có thể cho biết một số trạng thái của taynhư nắm, mở… Từ đó, tôi tiến hành xây dựng thuật toán như sauBước 1 - Khởi động Kinect;- Lấy tọa độ đốt sống cuối cùng của xương cột sốngcột sống, tọa độ xương hông, tọa độ khớp xương cổ và tọa độ khớpxương bàn tay phải của người dùng;- Tạo các nút lệnh chức năng theo các tọa độ định 2 Kiểm tra tọa độ bàn tay phải có thuộc khu vực các nútlệnh chức năng không? Nếu một nút chức năng có tọa độ là x,y thì21khi tọa độ bàn tay phải nằm trong phạm vi x ± 30, y ± 30 gọi là thuộcnút chức năng đó.+ Đúng Thực hiện bước 3;+ Sai Chuyển bước 5;Bước 3 Kiểm tra trạng thái bàn tay phải nắm không?+ Đúng Thực hiện bước 4;+ Sai Chuyển bước 8Bước 4 Thực hiện chức năng của nút lệnh được 5 Kiểm tra tọa độ bàn tay phải có thuộc khu vực hiển thịmẫu trang phục không?+ Đúng Thực hiện bước 6;+ Sai Chuyển bước 8;Bước 6 Kiểm tra trạng thái bàn tay phải nắm không?+ Đúng Thực hiện bước 7;+ Sai Chuyển bước 8;Bước 7 Thực hiện việc áp trang phục được chọn tương ứng lêncơ thể người dùng. Trang phục áo quần được chọn sẽ áp lên cơ thểngười dùng theo tọa độ đốt xương sống dưới cùng của xương cột sốngngười dùng để đảm bảo trang phục đó sẽ khớp vào cơ thể của ngườidùng. Nguyên tắc là trục đối xứng của ảnh trang phục sẽ trùng vớixương cột sống. Nếu là áo thì tọa độ thấp nhất của áo theo trục y sẽngang với tọa độ đốt xương sống dưới cùng theo y; nếu là chân váyquần thì tọa độ cao nhất của chân váy quần theo trục y sẽ cao hơntọa độ đốt xương sống dưới cùng theo y cộng thêm một khoảng 30pixel; nếu là váy thì tọa độ trung tâm của váy sẽ cao hơn tọa độ đốtxương sống dưới cùng một khoảng 30 pixel theo trục y. Tương tự, đốivới khăn quàng cổ sẽ được áp vào cổ người dùng dựa vào tọa độ xươngcổ và túi xách được áp vào tay người dùng dựa vào tọa độ bàn để trang phục ướm lên người và di chuyển theo là cài đặttọa độ hiển thị ảnh trang phục theo tọa độ khớp xương của người dùngđã xác định ở giai đoạn trích chọn đặc 8 Kết Chương Thực nghiệmSau khi xây dựng chương trình, tôi đã cho thử nghiệm ở các môitrường và điều kiện ánh sáng khác nhau. Khoảng cách từ người dùngđến camera Kinect là 2m. Kết quả nhận được là với các điều kiền kiệnánh sáng tốt, cử chỉ điểu khiển được thực thi chính xác gần như tuyệtđối. Trong các điều kiện ánh sáng không ổn định thì tỉ lệ bắt được cửchỉ vào khoảng 93-97%. Người dùng thử tỏ thái độ khá hài lòng vì cácthao tác điều khiển dễ dàng, giao diện đơn giản, dễ sử LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂNNhận dạng cử chỉ tay trong lĩnh vực xử lý ảnh và thị giác máytính đang được các nước trên thế giới phát triển và đạt được nhữngthành tựu đáng kể trong thời gian gần đây. Từ đó, tôi đã thực hiện đềtài về nhận dạng cử chỉ tay trong giao tiếp người-máy, với mục tiêu làthiết kế một giao diện người-máy cho phép giao tiếp hiệu quả và hấpdẫn, hỗ trợ việc chọn trang phục của con người trong ngành may. Quaquá trình nghiên cứu và thực hiện, luận văn đã đạt được những kết quảsauLuận văn đã trình bày những kiến thức tổng quan về cử chỉ tayvà cơ sở lý thuyết về nhận dạng cử chỉ tay trong giao tiếp văn đã nghiên cứu và lựa chọn kỹ lưỡng một số kỹ thuậttrích chọn đặc trưng ảnh cử tay, các thuật toán nhận dạng cử chỉ tayphổ biến và hiệu quả hiện nay. Đồng thời luận văn cũng đã tìm hiểukhả năng ứng dụng và hiệu quả nhận dạng chính xác của một số hệthống nhận dạng cử chỉ tay đã được một số tác giả xây dựng trước văn đã xây dựng thành công chương trình thực nghiệmnhận dạng cử chỉ tay từ video thu được trên Kinect để giao tiếp ngườimáy và ứng dụng hỗ trợ giúp con người xem, chọn và thử trang phụcdễ dàng, đáp ứng được được yêu cầu về thời gian quá trình thực hiện đề tài, do có nhiều hạn chế về thờigian thực hiện, về trình độ của bản thân,. . nên kết quả đạt được chưacao chỉ mới tạo CSDL trang phục cho áp dụng cho nữ giới, số lượngmẫu trang phục còn ít, chương trình hoạt động chưa tốt trong điều kiệnánh sáng không ổn định, chỉ mới giới hạn trong một cử chỉ điều khiểnđơn giản,…
Giới trẻ Cộng đồng mạng 1505 01/07/2016 Hai ngón tay bắt chéo vào nhau có ý nghĩa gì? Làm sao để nói “I love you” mà không cần dùng lời? Bạn có biết cử chỉ tay giúp truyền tải thông điệp dễ dàng hơn và làm tăng giá trị của thông tin lên đến 60%, chính vì thế hầu hết các diễn giả và những người phát ngôn có tầm ảnh hưởng nhất đều sử dụng cử chỉ tay trong khi nói chuyện hay phát biểu. Đây là một trong những ngôn ngữ giao tiếp không lời có khả năng kết nối nhanh nhất và dễ hiểu nhất trên thế giới, được con người ở mọi nền văn hóa sử dụng rộng rãi. Nhưng liệu bạn có hiểu hết ý nghĩa của chúng? Cách đếm số thứ tự, bằng cách này người nghe sẽ dễ hình dung và dễ nhớ hơn. Một thứ gì đó bé tí teo. “Để tôi nói cho mà biết nhé.” hoặc “Mình vừa nhớ ra một chuyện rất quan trọng.” “Nhỏ, trung bình, và lớn” hoặc “thấp, vừa, cao”. Ám chỉ mức độ cao thấp hay lớn nhỏ của một vật/việc gì đó. Bạn cũng có thể dùng cử chỉ này để nói về các giai đoạn từ thấp tới cao của một quá trình nào đó, chẳng hạn “Chúng ta sẽ bắt đầu với ý tưởng này giơ tay thấp, sau đó chúng ta sẽ cố gắng thúc đẩy nó giơ tay vừa, và cuối cùng sẽ hoàn thành nó giơ tay cao.” “Mọi người hãy nghe đây!” Đây là một cử chỉ vô cùng mạnh mẽ và dứt khoát, cho thấy điều bạn sắp nói ra là vô cùng quan trọng. Hành động ám chỉ bạn đang nói đến “tất cả mọi thứ”. Tuy nhiên nó cũng có một ý nghĩa khác là “dẹp hết qua một bên”, tùy vào ngữ cảnh. Ám chỉ một phần nhỏ nào đó của vấn đề bạn đang nói tới. Hoặc bạn dùng cử chỉ này để cho thấy suy nghĩ của bạn đã thay đổi từ cái này sang cái kia. Hòa bình hoặc chiến thắng. Chữ V với mu bàn tay hướng về phía trước cũng là hòa bình, có điều nếu như ở Anh, Úc, Nam Phi, Ireland, và New Zealand thì nó có nghĩa tương đương với ngón tay giữa. Cử chỉ này dùng để chọc quê người đối diện. Nó xuất phát từ một trò đùa của giới trẻ phương Tây, ở đó khi một người vừa ợ hay đánh trắm, họ sẽ đặt ngón tay cái lên trán hoặc chóp mũi giống như thế này và ngoắc ngoắc 4 ngón tay còn lại, người đối diện sẽ là người ngửi. Yeah! Rock lên nào! “Chuyện này/Việc này” “I love you!” Một cách dễ thương để nói “I love you!” “Làm tốt lắm!” Cử chỉ này có nghĩa làm chưa tốt hay đã thất bại rồi. “Lại đây nào!” “OK!” hoặc “Mọi thứ đều ổn!” Ở các nước phương Tây, khi một người bắt chéo hai ngón tay trỏ và giữa vào nhau, có nghĩa người đó đang cầu mong may mắn hay thuận lợi trong việc gì đó. Cử chỉ này có nghĩa bạn muốn ai đó dừng lại hoặc đứng yên ngay tại chỗ. Ngoài ra nó còn có nghĩa là “Tôi không muốn nói chuyện với bạn nữa”. L có nghĩa là “Loser”, đồ thất bại. Ảnh Internet Video có thể bạn quan tâm
cử chỉ tay trong giao tiếp